Kích thước không được ghi riêng theo ghi chú dung sai chung của chính bản vẽ đó. Số cấp nhỏ hơn là chặt hơn. Phay và tiện thông thường theo ghi chú chưa ghi dung sai trên bản vẽ. Lỗ chính xác, mặt lắp ráp và yêu cầu trong phạm vi 0,01 mm phải được ghi trên bản vẽ, và kỹ sư xác nhận có đạt được hay không. Trang báo giá nói dung sai then chốt theo bản vẽ.
0,001 mm và ±0,002 mm không phải dung sai mặc định của cả chi tiết. Bảng năng lực nói độ chính xác tới 0,001 mm, và chi tiết tinh thường là ±0,002 mm. Những mức đó thuộc năng lực năm trục hoặc gia công tinh. Bản vẽ vẫn là căn cứ. Cả hai mức phải được nêu tên, xác nhận trong DFM, và thường mất thêm thời gian. Có thể chọn FAI hoặc CMM. Chúng không phải bảo đảm cho cả nhà máy.
Mặt lắp ráp thường là ±0,02–0,05 mm. Một chuẩn được nêu tên trên bản vẽ có thể tới ±0,002 mm. Khi tuyên bố năng lực tới 0,001 mm, bản vẽ và danh sách kiểm tra vẫn là căn cứ. Khi cả bản vẽ là ±0,1 mm nhưng mặt lắp ráp thực sự định vị cần ±0,02–0,05 mm, hãy siết chỉ các mặt lắp và để phần còn lại ở dung sai chung của bản vẽ.
Một STL không có đơn vị và không có dung sai không được coi là nghiệm thu tinh. PDF mang dung sai. STEP mang hình dạng. Nếu hai bên lệch nhau, hãy chỉnh cho khớp trước khi khóa giá.
Ghi lỗ then chốt, mặt lắp ráp và kích thước chặt hơn 0,01 mm trên PDF, tải STEP, và xem giá tham chiếu tách theo hạng mục. Giá tham chiếu không phải hợp đồng. Đặc điểm chặt cần kỹ sư xác nhận.